Người Ba Na tại Quảng Ngãi
Trong không gian Quảng Ngãi hiện nay, đáng chú ý nhất là Ba Na nhóm Rơ Ngao ở khu vực Kon Tum cũ. Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh ghi nhận nhiều phong tục, lễ nghi và nghề thủ công Ba Na – Rơ Ngao tại Ngọk Bay, Đăk Rơ Wa, phường Đăk Cấm và Ia Chim.

Văn hoá lễ hội truyền thống của người Ba Na
-
Khái quát về dân tộc Ba Na
Ba Na là một trong những dân tộc cư trú lâu đời ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, người Ba Na có các nhóm địa phương như Rơ Ngao, Rơ Lơng (Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem; tiếng Ba Na thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á. Dân số Ba Na trên cả nước theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019 là 286.910 người.
Trong không gian Quảng Ngãi hiện nay, đáng chú ý nhất là Ba Na nhóm Rơ Ngao ở khu vực Kon Tum cũ. Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh ghi nhận nhiều phong tục, lễ nghi và nghề thủ công Ba Na – Rơ Ngao tại Ngọk Bay, Đăk Rơ Wa, phường Đăk Cấm và Ia Chim.
Một số cộng đồng Ba Na tiêu biểu hiện nay:
- Ngọk Bay – nơi có cộng đồng Ba Na khá đặc trưng, trong đó có làng Plei Klech.
- Đăk Rơ Wa – nổi bật với các làng Ba Na như Kon K’tu, Kon Jơ Dri.
- Đăk Hà – cộng đồng Ba Na Rơ Ngao đông, trong đó có Kon Trang Long Loi.
- Một số khu vực khác thuộc địa bàn Kon Tum cũ cũng có cộng đồng Ba Na sinh sống xen cư với các dân tộc Xơ Đăng, Gia Rai, Hrê và Kinh.

Nhà Rông truyền thông của người Ba Na
-
Đời sống và lao động sản xuất
Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, nông nghiệp là nền tảng truyền thống của người Ba Na. Người Ba Na canh tác cả ruộng khô và rẫy, trong đó rẫy giữ vai trò quan trọng trong phương thức sản xuất truyền thống. Ruộng khô thường được khai phá ở vùng ven sông, suối; từ đầu thế kỷ XX, kỹ thuật làm ruộng nước bằng cày ngày càng phát triển. Người Ba Na cũng có hình thức vườn chuyên canh và vườn đa canh.
Các hoạt động sản xuất truyền thống
Trồng trọt
Các hoạt động nông nghiệp gắn với điều kiện núi rừng và nguồn nước, trong đó lúa là cây trồng quan trọng. Ngoài trồng lúa, đời sống nông nghiệp còn gắn với hoa màu, cây ăn quả và các loại cây phù hợp với địa hình Tây Nguyên.
Chăn nuôi
Trâu, bò, lợn, dê, gà… là những vật nuôi phổ biến trong đời sống cộng đồng. Chăn nuôi vừa cung cấp thực phẩm vừa có vai trò trong các nghi lễ truyền thống.
Khai thác tự nhiên
Trong đời sống truyền thống, người Ba Na còn khai thác các nguồn lợi từ rừng, suối như hái lượm, đánh bắt cá và các sản vật tự nhiên.
Nghề thủ công
Đan lát và dệt thổ cẩm là hai nghề có giá trị văn hóa rất rõ nét. Tại Đăk Hà, chính quyền địa phương hiện đang triển khai các chương trình điều tra, bảo tồn và truyền dạy nghề dệt thổ cẩm, đan lát của người Ba Na Rơ Ngao.
Tại Đăk Rơ Wa, nghề dệt truyền thống còn được kết hợp với phát triển du lịch cộng đồng, tạo thêm sinh kế và thu nhập cho người dân.

Nhà Rông Ba Na tại Bảo tàng Quang Trung
-
Phân bố cư trú
Đây là phần cần lưu ý khi giới thiệu về Ba Na ở Quảng Ngãi hiện nay.
Trước năm 2025, khu vực tập trung người Ba Na mà ngày nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi nằm chủ yếu trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũ. Sau khi Quảng Ngãi và Kon Tum hợp nhất, những địa bàn này trở thành một phần của tỉnh Quảng Ngãi mới.
Theo danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh, cộng đồng Ba Na – nhóm Rơ Ngao được ghi nhận tại:
- Xã Ngọk Bay
- Xã Đăk Rơ Wa
- Phường Đăk Cấm
- Xã Ia Chim
Ngoài ra, cộng đồng Ba Na còn hiện diện ở Đăk Hà và nhiều địa bàn khác thuộc khu vực Tây Nguyên của tỉnh Quảng Ngãi mới.
Một ví dụ tiêu biểu là Kon Trang Long Loi, nơi có trên 135 hộ với khoảng 800 người, chủ yếu là Ba Na – Rơ Ngao; cộng đồng này vẫn duy trì cồng chiêng, xoang, lễ hội, dệt thổ cẩm, đan lát, đục tượng và chế tác nhạc cụ dân tộc.
Tại Gia Lai người Ba Na sinh sống phần lớn tại xã K’Bang
-
Ma chay của người Ba Na
Trong quan niệm truyền thống của người Ba Na, cái chết không đơn thuần là sự kết thúc cuộc sống mà là sự chuyển tiếp của con người sang một thế giới khác.
Đám tang vì vậy thường là một nghi lễ quan trọng của cả gia đình và cộng đồng làng.
Đặc biệt, lễ bỏ mả (Pơ thi) là một nghi lễ nổi tiếng trong văn hóa Ba Na. Đây là nghi lễ đánh dấu thời điểm người sống hoàn tất mối quan hệ với người đã khuất, để linh hồn người chết trở về với thế giới của tổ tiên.
Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý rằng không nên mô tả lễ bỏ mả như một nghi lễ còn phổ biến ở tất cả cộng đồng Ba Na tại Quảng Ngãi hiện nay.
Danh mục kiểm kê của tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận:
- Đám tang của Ba Na – Rơ Ngao tại Ngọk Bay, Đăk Rơ Wa, Đăk Cấm, Ia Chim: có nơi đã mai một.
- Lễ bỏ mả (Pơ thi, tŭk pơxat) của Ba Na – nhóm Bahnar tại Đăk Rơ Wa, Ngọk Bay và phường Kon Tum: đã mai một.
Điều này cho thấy văn hóa tang ma truyền thống đang có sự biến đổi mạnh dưới tác động của đời sống hiện đại, tôn giáo và các quy định về thực hiện nếp sống văn minh.
-
Cưới hỏi
Hôn nhân truyền thống Ba Na đề cao gia đình, dòng họ và cộng đồng làng.
Theo tài liệu của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, nguyên tắc cơ bản là hôn nhân một vợ một chồng. Sau cưới từng tồn tại phổ biến hình thức luân cư, tức vợ chồng lần lượt cư trú bên gia đình vợ rồi gia đình chồng trong những khoảng thời gian nhất định, sau đó ra ở riêng để hình thành gia đình mới.
Trong văn hóa Ba Na – Rơ Ngao tại Quảng Ngãi, cưới hỏi truyền thống được ghi nhận với các tên gọi như:
- Tơ gai
- Pơ kong
- Et pơ xit
- Pơ kong
Tuy nhiên, các nghi thức này hiện không còn nguyên vẹn ở mọi cộng đồng.
Danh mục kiểm kê di sản của tỉnh đánh giá cưới hỏi truyền thống Ba Na đang dần mai một.
Ngày nay, hôn nhân của người Ba Na đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của pháp luật về hôn nhân và gia đình, giáo dục, đời sống kinh tế và sự giao lưu với các dân tộc khác.
-
Lễ hội và nghi lễ truyền thống
Đây là một trong những lĩnh vực đặc sắc nhất của văn hóa Ba Na.
Các nghi lễ truyền thống thường gắn với:
- Nông nghiệp
- Nguồn nước
- Nhà rông
- Gia đình
- Cộng đồng làng
- Sức khỏe và mùa màng
Lễ mừng lúa mới
Là nghi lễ gắn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, thể hiện niềm vui sau mùa thu hoạch và lòng biết ơn đối với các lực lượng thiêng liêng theo quan niệm truyền thống.
Danh mục di sản của Quảng Ngãi ghi nhận Lễ mừng lúa mới (Kă 4 ‘mao ‘nao) của Ba Na – Rơ Ngao tại Ngọk Bay, Đăk Rơ Wa và Ia Chim; hiện được đánh giá là đã mai một.
Lễ mừng nhà rông mới
Nhà rông là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của làng. Khi xây dựng nhà rông mới, cộng đồng tổ chức nghi lễ mừng nhà rông.
Tại Ba Na – nhóm Bahnar ở Đăk Rơ Wa và Ngọk Bay, mừng nhà rông mới vẫn còn được duy trì.
Lễ mừng nước giọt
Nước có vị trí đặc biệt trong đời sống cư dân Tây Nguyên. Người Ba Na truyền thống có các nghi lễ liên quan đến nguồn nước và máng nước.
Tuy nhiên, tại một số cộng đồng Ba Na Rơ Ngao ở Quảng Ngãi, nghi lễ này đang suy giảm hoặc mai một.
Lễ thổi tai
Đây là nghi lễ liên quan đến trẻ em và quá trình gia nhập đời sống cộng đồng. Danh mục kiểm kê của tỉnh cho biết nghi lễ thổi tai vẫn còn được duy trì trong cộng đồng Ba Na – Rơ Ngao, mặc dù một số thủ tục đã được giản lược.
Lễ kết nghĩa
Lễ kết nghĩa (Pô ‘băn) thể hiện tinh thần gắn kết giữa các cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng. Đây cũng là một nghi lễ được tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận là còn duy trì trong văn hóa Ba Na.
-
Văn hóa Ba Na
Nhà rông
Nhà rông là một biểu tượng quan trọng của không gian văn hóa Ba Na.
Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, nhà rông nằm ở trung tâm làng, là nơi diễn ra nhiều hoạt động cộng đồng như giáo dục thanh thiếu niên, nghi lễ, hội làng và những sinh hoạt chung của dân làng.
Ở Ngọk Bay, các nhà rông truyền thống với mái tranh và không gian làng Ba Na vẫn được xem là một phần quan trọng của di sản văn hóa địa phương.
Cồng chiêng
Cồng chiêng gắn với các nghi lễ, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng.
Tại Kon Trang Long Loi, các nghệ nhân vẫn truyền dạy cồng chiêng, xoang, dân ca và nhạc cụ truyền thống cho thế hệ trẻ.
Múa xoang
Múa xoang thường đi cùng không gian cồng chiêng trong các dịp lễ hội. Người dân cùng hòa vào vòng múa, thể hiện sự đoàn kết và tính cộng đồng.
Sử thi và dân ca
Kho tàng văn hóa Ba Na có nhiều trường ca, truyện cổ, dân ca. Bộ Dân tộc và Tôn giáo ghi nhận các hình thức dân ca như hmon, roi, cùng hệ thống nhạc cụ phong phú gồm nhạc cụ dây, hơi và gõ.
Dệt thổ cẩm và đan lát
Đây không chỉ là nghề thủ công mà còn là phương tiện lưu giữ thẩm mỹ và bản sắc của cộng đồng.
Tại Quảng Ngãi hiện nay, đan lát Ba Na – nhóm Bahnar được ghi nhận còn duy trì, trong khi dệt thủ công chỉ còn một số ít người thực hành ở một số địa bàn.
-
Ẩm thực Ba Na
Ẩm thực Ba Na chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường núi rừng, nông nghiệp và nguồn thực phẩm địa phương.
Một số món tiêu biểu hiện đang được giới thiệu trong các mô hình du lịch cộng đồng Ba Na ở Quảng Ngãi gồm:
Cơm lam
Gạo được cho vào ống tre, thêm nước rồi nướng chín trên lửa. Cơm lam có mùi thơm đặc trưng của tre và thường xuất hiện trong các bữa ăn truyền thống cũng như phục vụ khách du lịch.
Gà nướng
Gà được chế biến và nướng trên lửa, thường ăn cùng cơm lam và các loại rau, gia vị địa phương.
Cá suối nướng
Nguồn cá từ sông, suối được chế biến đơn giản rồi nướng trên than hoặc lửa, giữ hương vị tự nhiên.
Cà đắng và rau rừng
Các loại rau rừng, măng và cà đắng là những nguyên liệu tạo nên nét riêng của ẩm thực vùng Tây Nguyên.
Rượu cần/rượu ghè
Đây không chỉ là thức uống mà còn có ý nghĩa giao tiếp cộng đồng, thường xuất hiện trong lễ hội, sinh hoạt làng và các dịp tiếp khách.
UBND xã Ngọk Bay hiện xác định gà nướng, cơm lam, cá suối nướng, cà đắng, rượu cần và các món ăn truyền thống Ba Na là nhóm sản phẩm có thể khai thác trong du lịch cộng đồng.
Tại Đăk Rơ Wa, người dân cũng đang được hỗ trợ học chế biến rượu ghè và các món ăn truyền thống, đồng thời đưa cơm lam, rượu cần vào các sản phẩm trải nghiệm du lịch.
-
Một đặc điểm quan trọng: văn hóa Ba Na đang thay đổi
Khi giới thiệu về người Ba Na ở Quảng Ngãi hiện nay, cần tránh hình ảnh hóa rằng mọi phong tục cổ truyền vẫn còn nguyên vẹn.
Các tài liệu kiểm kê chính thức của tỉnh cho thấy mức độ bảo tồn rất khác nhau:
| Giá trị văn hóa | Tình trạng được ghi nhận |
| Đan lát | Còn duy trì |
| Lễ thổi tai | Còn duy trì, đã giản lược một số thủ tục |
| Lễ kết nghĩa | Còn duy trì |
| Mừng nhà rông mới | Còn duy trì |
| Lễ phạt | Còn duy trì nhưng có nguy cơ mai một |
| Dệt thủ công | Chỉ còn một số ít người |
| Cưới hỏi truyền thống | Đang dần mai một |
| Lễ bỏ mả | Đã mai một |
| Mừng nước giọt | Đã mai một ở một số cộng đồng |
| Một số nghi lễ tang ma | Đã mai một |
Điều này phản ánh quá trình hiện đại hóa, thay đổi sinh kế, giáo dục, tôn giáo, giao lưu văn hóa và thực hiện nếp sống mới của cộng đồng.
Đáng chú ý, tại Đăk Hà, chính quyền địa phương hiện đang triển khai các hoạt động điều tra nghệ nhân, thống kê hộ còn làm nghề, xây dựng mô hình truyền dạy dệt thổ cẩm – đan lát và đưa nghề truyền thống vào trường học, sự kiện văn hóa và du lịch.
-
Giá trị nổi bật của người Ba Na ở Quảng Ngãi
Có thể khái quát văn hóa Ba Na ở Quảng Ngãi bằng 7 giá trị đặc trưng:
- Không gian làng – nhà rông
Làng là trung tâm của đời sống cộng đồng, nhà rông là không gian văn hóa quan trọng. - Văn hóa cồng chiêng – xoang
Âm nhạc và múa gắn chặt với lễ hội và đời sống cộng đồng. - Văn hóa nông nghiệp
Lúa, rẫy, nguồn nước và mùa màng chi phối nhiều nghi lễ truyền thống. - Tinh thần cộng đồng
Các nghi lễ, lễ hội và sinh hoạt chung thể hiện tính cố kết làng xã rất cao. - Nghề thủ công
Dệt thổ cẩm, đan lát, tạc tượng và chế tác nhạc cụ là những giá trị văn hóa quan trọng. - Kho tàng dân gian
Sử thi, trường ca, truyện cổ, dân ca và nhạc cụ truyền thống tạo nên một hệ thống văn hóa truyền miệng phong phú. - Ẩm thực bản địa
Cơm lam, gà nướng, cá suối nướng, cà đắng, rau rừng và rượu cần/ghè đang trở thành những sản phẩm có giá trị trong du lịch cộng đồng.